Nâng cao hiệu quả ứng dụng phần mềm trắc nghiệm trong lượng giá kiến thức học viên tại Học viện Quân y

Cập nhật: 9h33 | 21/09/2011

HVQY: năm 2002, Học viện Quân y chính thức triển khai ứng dụng ứng dụng phần mềm trắc nghiệm khách quan trong lượng giá kiến thức học viên. Cho đến nay, đã tổ chức 1.827 buổi thi cho 89.985 lượt học viên dự thi. Kết quả cho thấy tiết kiệm nhiều thời gian, công sức, vật chất, kinh phí và phòng tránh, hạn chế các tiêu cực có thể xảy ra; bảo đảm chính xác, khách quan, minh bạch. Qua đó, thúc đẩy học viên tự giác học tập, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện và đào tại Học viện Quân y.

Ảnh: Thi trắc nghiệm bằng phần mềm tại Học viện Quân y

1. Tổng quan trắc nghiệm khách quan.

Trắc nghiệm có hai hình thức: trắc nghiệm khách quan (Objective Test) và trắc nghiệm tự luận (Essay Test). Trong trắc nghiệm khách quan, hệ thống cho điểm là hoàn toàn khách quan, không chủ quan như trắc nghiệm tự luận, kết quả chấm điểm không phụ thuộc vào người chấm. Ứng dụng trắc nghiệm khách quan bằng phần mềm sẽ làm tăng thêm tính khách quan của phương pháp, loại bỏ các sai số chủ quan nhầm lẫn trong chấm, sao chép, tổng hợp kết quả bài thi…

Hiện nay, tại Việt Nam, câu trắc nghiệm khách quan (sau đây gọi tắt là trắc nghiệm) được phân thành 05 loại như sau:

- Câu đa lựa chọn (Multiple Choice Questions).

- Câu đúng - sai (Yes/No Questions hoặc True/False Questions).

- Câu ghép đôi còn được gọi là câu xứng hợp hoặc nối cột (Matching Items).

- Câu điền khuyết (Supply Items hoặc Completion/Blank Filling).

- Câu sử dụng hình vẽ, mô hình (Picture Items).

Trong các bước triển khai trắc nghiệm thì xây dựng và đánh giá câu trắc nghiệm là quan trọng nhất. Một câu trắc nghiệm phải đáp ứng đồng thời cả 02 yếu tố là chỉ số khó DF (Difficulty Factor) và chỉ số phân biệt DI (Discrimination Index) mới được đưa vào sử dụng. Việc đánh giá câu trắc nghiệm dựa trên công thức và thực hiện bằng phần mềm.

Trong ứng dụng lượng giá kiến thức, theo khuyến cáo không nên sử dụng loại câu đúng-sai (vì khả năng đoán mò đạt 50/50), không viết câu hỏi ngược (tìm các câu sai), không viết câu hỏi kiểu đánh đố, đánh lừa hoặc bẫy thí sinh...

Khi ứng dụng trắc nghiệm bằng phần mềm, không nên viết câu hỏi MCQ kiểu như: tất cả các câu trên là đúng (vì phần mềm tự động đảo các phương án chọn); không nên sử dụng loại câu điền khuyết vì mất nhiều thời gian thao tác để trả lời bằng bàn phím cũng như trong biên soạn đáp án (vì thí sinh có thể bỏ dấu tiếng Việt sai quy cách; ví dụ đáp án đúng là "Chuyển" thì sẽ phải biên soạn và chấp nhận cả 03 phương án trả lời: Chuyển, Chủyên, Chuỷên)...

2. Thực trạng ứng dụng trắc nghiệm bằng phần mềm tại Học viện Quân y.

2.1. Hệ thống trắc nghiệm.

Năm 2002, Học viện đầu tư phòng 45 máy tính chuyên dùng thi trắc nghiệm. Đến năm 2008, tiếp tục đầu tư nâng cấp phòng 86 máy tính cùng hệ thống camera giám sát, kết nối trực tiếp với máy chủ đặt tại Buồng Quản trị mạng của Học viện thông qua đường cáp quang Backbone dùng riêng.

Hệ thống phần mềm trắc nghiệm là sản phẩm đề tài cấp Cục KHQS “Nghiên cứu xây dựng hệ thống phần mềm thi trắc nghiệm mô hình mạng phục vụ huấn luyện và đào tạo tại Học viện Quân y” do Phòng KHQS – Học viện Quân y chủ trì thực hiện năm 2001, sử dụng mô hình Webbased Client/Server 3 lớp, công nghệ ASP, ngôn ngữ lập trình JSP, CSDL SQL Server 2000. Năm 2007, được Cục Nhà trường/BTTM lựa chọn và giao cho Ban CNTT của Học viện thực hiện đề tài "Nghiên cứu lập trình phần mềm thi trắc nghiệm phiên bản 2.0 phục vụ huấn luyện và đào tạo tại Học viện Quân y" với mục tiêu nghiên cứu tạo ra sản phẩm phần mềm có thể ứng dụng dùng chung tại các nhà trường trong quân đội; sử dụng công nghệ ASP.NET, ngôn ngữ VB, CSDL SQL Server 2005. Năm 2008, sản phẩm được công nhận "Sáng kiến cấp Học viện Quân y". Cũng trong năm 2008, được Bộ Tổng Tham mưu chứng nhận "Đạt tiêu chuẩn chất lượng tại Hội thi mô hình học cụ, trang thiết bị huấn luyện toàn quân". Hệ thống bao gồm 07 phân hệ chức năng sau:

- Quản trị hệ thống: quản lý tài khoản và phân quyền sử dụng cho cán bộ - giảng viên; quản lý thông tin và tài khoản học viên; thiết lập danh mục, tham số hệ thống; nhật ký hệ thống; thiết lập máy tính được phép kết nối với phần mềm thông qua địa chỉ IP và địa chỉ MAC.

- Quản lý ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm: quản lý ngân hàng câu trắc nghiệm theo Bộ môn với 03 cấp độ: Khoa, Môn học và Chương; sử dụng 03 loại câu trắc nghiệm: câu đa lựa chọn một đáp án, câu đa lựa chọn nhiều đáp án và câu ghép đôi; trong đó các câu hỏi đều có thể sử dụng hình ảnh.

- Quản lý ngân hàng đề thi: tạo đề thi theo 03 phương pháp: ra đề tự động theo phương pháp lấy ngẫu nhiên; giảng viên tự lựa chọn từ ngân hàng câu trắc nghiệm; tạo đề thi mới thông qua sửa chữa từ đề thi đã có. Ngoài ra, còn có chức năng in đề thi ra giấy trong trường hợp tổ chức làm bài trắc nghiệm trên giấy.

- Tổ chức thi: thiết lập tham số cho buổi thi; lựa chọn danh sách thí sinh dự thi; lựa chọn số đề thi cho một buổi thi (có thể sử dụng 1 hoặc nhiều đề thi cho một buổi thi); ghép đề thi với các lớp hoặc nhóm thí sinh (sử dụng trong trường hợp cùng một buổi thi có nhiều lớp hoặc nhóm thí sinh thi các môn khác nhau).

- Điều hành thi trực tuyến:

+ Học viên: kiểm tra thông tin thí sinh khi đăng nhập, thông báo qui chế và bắt buộc xác nhận trước khi làm bài; tự động tính thời gian và hiển thị đồng hồ đếm ngược; tự động đảo thứ tự các câu chọn trong một câu hỏi, đảo thứ tự các câu hỏi trong một bài thi để chống quay cóp, hỏi bài; tự động ra thông báo “nhắc sắp hết giờ” vào thời điểm 1 phút trước khi hết giờ; tự động thu bài, chấm điểm, thông báo điểm khi hết giờ; in phiếu kết quả làm bài thi dạng ngắn gọn để học viên ký nhận; lưu tình trạng làm bài thi phục vụ khướu nại, khảo thí; các chức năng khác trợ giúp trong quá trình làm bài: di chuyển nhanh đầu trang và cuối trang, nút lệnh cho phép đánh dấu và đổi mầu các câu chưa làm để tránh bỏ sót...

+ Giám thị: giám sát tiến trình thi, tự động tổng hợp kết quả của buổi thi theo mẫu qui định của nhà trường, in biên bản coi thi.

- Quản lý điểm: tra cứu xem điểm thi theo các tiêu chí khác nhau, trong đó bảng điểm tự động thống kê xếp hạng theo tỷ lệ phần trăm: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém.

- Thống kê – báo cáo: thống kê câu trắc nghiệm, thống kê đề thi, thống kê điểm, kết xuất báo cáo theo các mẫu biểu quy định của nhà trường.

2.2. Kết quả triển khai trắc nghiệm bằng phần mềm.

- Năm 2002, Học viện chính thức triển khai ứng dụng lượng giá kiến thức học viên bằng phần mềm trắc nghiệm (là một trong số ít nhà trường đầu tiên của Việt Nam triển khai trắc nghiệm bằng phần mềm phạm vi toàn trường, đồng thời đây cũng là phần mềm sử dụng mô hình Webbased, ứng dụng dùng chung đầu tiên tại Học viện). Thời điểm ban đầu có 20 Bộ môn – Khoa tham gia, cho đến nay còn 13 Bộ môn – Khoa thường xuyên sử dụng.

- Công tác quản lý chủ trì triển khai được giao cho Phòng Đào tạo, cơ quan phối hợp gồm Phòng Khảo thí và Ban CNTT. Tại các buổi thi, ngoài giám thị của các Bộ môn thì thường xuyên có 01 cán bộ của Ban CNTT trực bảo đảm kỹ thuật.

- Cho đến nay, Ban CNTT đã triển khai tập huấn 06 lớp hướng dẫn sử dụng phần mềm trắc nghiệm cho trên 200 cán bộ - giảng viên.

- Sau gần 15 năm triển khai, các Bộ môn – Khoa đã xây dựng và cập nhật được 12.147 câu trắc nghiệm; tổ chức 1.827 buổi thi cho 89.985 lượt học viên dự thi.

- Ngoài triển khai ứng dụng tại Học viện, Ban CNTT còn giúp các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội triển khai ứng dụng phần mềm: Trường Trung cấp Quân y 1, Trường Trung cấp Quân y 2, Trường Cao đẳng Kinh tế Hưng Yên và Bệnh viện Hà Đông.

- Nhờ áp dụng đo lường lượng giá kiến thức bằng phần mềm trắc nghiệm đã tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, vật chất, kinh phí và phòng tránh, hạn chế các tiêu cực có thể xảy ra; đặc biệt các kết quả lượng giá kiến thức học viên bảo đảm công bằng, khách quan, chính xác và minh bạch. Qua đó, thúc đẩy học viên tự giác học tập, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện và đào tạo tại Học viện Quân y.

2.3. Một số hạn chế tồn tại.

- Cho đến thời điểm hiện nay, số Bộ môn ứng dụng phần mềm trắc nghiệm chỉ còn 65% so với thời điểm năm 2002 với lý do phương pháp trắc nghiệm khách quan không phù hợp với một số Bộ môn thuộc khối khoa học cơ bản, KHXHNV và Y học lâm sàng.

- Vào thời điểm mới triển khai ứng dụng, một vài giảng viên còn lúng túng trong sử dụng phần mềm và trong giải quyết các vi phạm, thậm chí có trường hợp còn “ỷ lại” vào phần mềm, không kiểm tra thẻ sinh viên, cho ra vào lộn xộn, dẫn đến xảy ra hiện tượng thi hộ hoặc học viên làm bài nhiều lần.

- Một số thí sinh hoặc chưa nắm rõ qui chế hoặc cố tình vi phạm: thi hộ, thi nhiều lần dẫn đến có nhiều điểm thi (phần mềm ghi lại tình trạng bài thi, thời gian làm và nộp bài, số lần làm bài và có thể chứng minh thí sinh đã phạm qui). Trong quá trình làm bài, có những thí sinh "giả vờ" động chạm vào nút nguồn để khởi động lại máy tính hoặc lén rút dây mạng (rút ra để 2-3 phút sau đó cắm lại khiến phần mềm ngừng hoạt động) để được làm lại bài thi. Có một số trường hợp thí sinh không làm được bài nên làm đơn phúc khảo và đổ lỗi cho phần mềm chấm điểm không đúng. Sau khi ban hành và áp dụng quy chế thì gần như không xảy ra các trình trạng gian lận như nêu trên.

- Tại một số buổi thi, số lượng máy tính bị hỏng chiếm tỷ lệ trên 10%.

- Một số ý kiến đề xuất Ban CNTT cần tiếp tục bổ sung, nâng cấp các chức năng phần mềm nhằm phòng chống, phát hiện gian lận của học viên.

3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả trắc nghiệm bằng phần mềm tại Học viện Quân y.

- Chuyển giao Phòng Khảo thí chủ trì triển khai theo đúng chức năng nhiệm vụ; kiện toàn quy chế, tăng cường thanh - kiểm tra các buổi thi trắc nghiệm, đôn đốc nhắc nhở cán bộ coi thi và học viên chấp hành nghiêm qui chế; có thể kết hợp áp dụng hình thức giám sát trên Hệ thống phần mềm trắc nghiệm hoặc qua hệ thống Camera giám sát phòng thi.

- Hàng năm, tổ chức họp rút kinh nghiệm giữa các đơn vị: Phòng Khảo thí, Phòng Đào tạo đại học, Phòng Sau đại học, Ban CNTT, đại diện các Bộ môn và Hệ quản lý học viên.

- Tiếp tục khuyến khích các Bộ môn - Khoa đẩy mạnh ứng dụng trắc nghiệm bằng phần mềm, xây dựng bổ sung ngân hàng câu trắc nghiệm bảo đảm về số lượng và chất lượng.

- Tiếp tục mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ sử dụng phần mềm trắc nghiệm cho cán bộ, giảng viên, giáo viên.

- Đưa nội dung ứng dụng thi trắc nghiệm bằng phần mềm vào mục chấm điểm phục vụ bình xét thi đua khen thưởng hàng năm đối với khối Bộ môn - Khoa.

- Đầu các năm học mới, các Hệ quản lý học viên phối hợp với Phòng Khảo thí và Ban CNTT để tổ chức giới thiệu, hướng dẫn làm bài thi trên phần mềm trắc nghiệm kết hợp phổ biến quy chế để học viên không bị bỡ ngỡ hoặc vô tình vi phạm quy chế trong những lần đầu tiên làm bài trắc nghiệm bằng phần mềm.

- Mở rộng đối tượng thi trắc nghiệm đối với học viên sau đại học và trung học. Nghiên cứu, xem xét ứng dụng trong các kỳ thi tuyển sinh đầu vào.

- Tổng hợp các ý kiến đóng góp để nâng cấp sửa chữa, bổ sung các chức năng để phần mềm ngày càng hoàn thiện hơn. Nghiên cứu xây dựng chức năng phòng chống và phát hiện gian lận; chức năng đánh giá chất lượng câu trắc nghiệm nhằm tự động phát hiện các câu hỏi không bảo đảm về độ khó, độ phân biệt để loại ra khỏi ngân hàng.

- Kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa kỹ thuật để bảo đảm số lượng máy tính hoạt động luôn đạt tối thiểu ~ 95%; thường xuyên sao lưu dự phòng dữ liệu; có máy chủ, máy tính dự phòng thay thế.

- Lắp đặt bổ sung camera giám sát ở các góc độ khác nhau để có thể ghi lại các hành vi của học viên trong quá trình làm bài thi.

- Tăng cường bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin số cho hệ thống trắc nghiệm, đặc biệt là máy chủ và phần mềm./.

ThS Lê Trung Thắng - Ban CNTT - HVQY

 

 

Tin cùng chuyên mục


CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌC VIỆN QUÂN Y - BỘ QUỐC PHÒNG
Địa chỉ: Số 160 - Đường Phùng Hưng - Phường Phúc La - Quận Hà Đông - Thành phố Hà Nội
Trưởng ban biên tập: Trung tướng PGS. TS. Nguyễn Xuân Kiên - Giám đốc Học viện Quân y
Giấy phép số 122/GP-TTĐT ngày 23/09/2008 của Bộ TT&TT
Thiết kế bởi Ban CNTT - Phòng KHQS - Học viện Quân y
Nhà cái Thabet: https://thabet.asia/